HNP - Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Mạnh Quyền đã ký ban hành Kế hoạch số 104/KH-UBND ngày 13/3/2026 về phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030.
Mục tiêu chung
Phát triển ngành dịch vụ logistics bền vững, hiệu quả, chất lượng và có giá trị gia tăng cao, năng lực cạnh tranh tốt, phát huy lợi thế của Thành phố trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm logistics vùng đồng bằng Sông Hồng, đồng thời là trung tâm e-logistics (logistics điện tử) hàng đầu Việt Nam; phát triển logistics xanh - thông minh, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và hỗ trợ mạnh mẽ thương mại điện tử.
Mục tiêu cụ thể
Đến năm 2030, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GRDP đạt 10%-12%; tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 18%-22%; tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 65%-70%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 13%-16% GRDP Thành phố.
Tối thiểu 01 trung tâm logistics cấp vùng (loại 1) gắn với sân bay Nội Bài hoặc khu vực cửa ngõ phía Bắc (tại khu vực Đông Anh, Sóc Sơn); 02 trung tâm logistics cấp Thành phố (loại 2) tại khu vực Phú Xuyên (cửa ngõ phía Nam), khu vực Gia Lâm, Long Biên (cửa ngõ phía Đông) và một số hệ thống cảng cạn ICD (cụ thể: ICD Cổ Bi, ICD Đông Anh, ICD Đức Thượng). Phát triển hệ thống kho bãi, kho lạnh, kho thông minh theo phân bổ vùng.
Đẩy mạnh tích hợp công nghệ số: Ứng dụng IoT, Big Data, Blockchain để tự động hóa, số hóa quy trình logistics (logistics 4.0, e-logistics) nhằm thúc đẩy doanh nghiệp dịch vụ logistics đổi mới, sáng tạo, cung ứng chuỗi dịch vụ logistics ở mức độ 3 (3PL)1, mức độ 4 (4PL)2, hướng đến mức độ 5 (5PL)3, logistics điện tử trên cơ sở phát triển thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, hiệu quả, chuyên nghiệp.
70% các doanh nghiệp TMĐT sử dụng dịch vụ logistics điện tử (e-logistics).
Nghiên cứu phát triển các loại hình kho vận TMĐT hiện đại (trung tâm fulfillment) nhằm phục vụ TMĐT nội địa và TMĐT xuyên biên giới (CBEC).
Ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số để thực hiện giảm dần thời gian giao hàng nội đô, đồng thời tăng tỷ lệ giao hàng nhanh.
Giảm thiểu tỷ lệ phương tiện giao hàng đô thị sử dụng nhiên liệu hóa thạch để chuyển dần sang các phương tiện thân thiện với môi trường.
Xây dựng và khuyến khích chuyển đổi các trung tâm logistics, cảng cạn ICD, kho bãi sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm phát thải, hướng tới mục tiêu Net Zero (phát thải ròng bằng 0); đáp ứng yêu cầu "xanh hóa" chuỗi cung ứng của các thị trường quốc tế, tuân thủ các hiệp định thương mại cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Nghiên cứu hình thành hệ thống giao hàng xanh phù hợp định hướng Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021.
Thúc đẩy doanh nghiệp logistics đạt chuẩn doanh nghiệp logistics tích hợp mức độ 3PL-4PL, hướng đến mức độ 5PL.
Các doanh nghiệp logistics hoàn thành ứng dụng nền tảng số; hệ thống WMS, TMS, OMS tiêu chuẩn quốc tế.
Hình thành mạng lưới startup logistics cung cấp giải pháp công nghệ cho TMĐT, kho vận và giao nhận.
100% doanh nghiệp logistics lớn có cán bộ được đào tạo theo chuẩn quốc tế (FIATA, CSCMP).
Tăng dần số lượng và tỷ lệ nhân lực được đào tạo trình độ cao trong ngành logistics.
Phát triển mạng lưới chuyên gia logistics xanh - logistics số, phục vụ phát triển công nghệ logistics.
Xây dựng nền tảng dữ liệu logistics Hà Nội tích hợp dữ liệu kho, vận tải, ICD, doanh nghiệp.
100% xã, phường thực hiện cập nhật dữ liệu kho bãi, giao nhận, doanh nghiệp logistics phù hợp với mô hình chính quyền 02 cấp.
Các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm
Rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng, quy hoạch phân khu và các quy hoạch ngành có liên quan cũng như các Kế hoạch phát triển hạ tầng và dịch vụ logistics, tích hợp sâu dịch vụ logistics trong chiến lược phát triển ngành bảo đảm đồng bộ về cơ sở hạ tầng, cơ cấu sản xuất phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Ứng dụng nền tảng số để tăng hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kho bãi, vận tải, giao nhận, trung tâm logistics, cảng cạn ICD.
Đẩy mạnh công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, giải quyết các thủ tục hành chính (mức độ 3, 4) nhanh chóng, thuận tiện ở tất cả các khâu, trọng tâm là các lĩnh vực: Công thương, hải quan, thuế, giao thông vận tải.
Xây dựng bộ tiêu chí và thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh logistics cấp quốc gia và của Thành phố, xếp hạng các doanh nghiệp dịch vụ logistics.
Tiếp tục nghiên cứu xây dựng các trung tâm logistics có quy mô phù hợp trên các tuyến đường vành đai Thành phố, kết nối các đầu mối gom hàng, các kho tập kết, phân phối hàng tại các khu vực tập trung sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp, khu công nghiệp; chú trọng phát triển hệ thống kho bãi chuyên dụng, trong đó tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các khu logistics (logistics park), trung tâm phân phối, kho thông minh, kho chuyên dụng phục vụ các mặt hàng nông sản, hóa chất, hàng công nghiệp, chế biến, chế tạo và thương mại điện tử.
Phát triển hệ thống giao thông thông minh, chuyển đổi các hạ tầng logistics (như cảng biển, cảng thủy nội địa, hàng không, đường sắt, kho vận...); phát triển các nền tảng kết nối giữa các chủ hàng, các nhà giao vận và khách hàng.
Nghiên cứu phát triển các loại hình kho vận TMĐT hiện đại (trung tâm fulfillment) nhằm phục vụ TMĐT nội địa và TMĐT xuyên biên giới (CBEC). Hướng đến chuẩn hóa hệ thống kho bãi TMĐT: Mã địa điểm, truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa dữ liệu các kho. Hình thành và phát triển đội ngũ giao hàng xanh, xe điện, mô hình micro-hub (điểm phân phối nhỏ gọn) trong nội đô. Số hóa toàn bộ hoạt động giao nhận: e-POD, bản đồ giao hàng số. Hỗ trợ doanh nghiệp Hà Nội tham gia các sàn TMĐT nổi tiếng như: Amazon, Alibaba, Temu, TikTok Global.
Hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp dịch vụ logistics áp dụng và đạt các chứng chỉ về tăng trưởng xanh, tăng trưởng bền vững, phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm trung hòa carbon thông qua việc giảm phát thải hoặc trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp dịch vụ logistics lớn của nước ngoài để tiếp thu, xây dựng và phát triển hệ sinh thái các nền tảng số, ứng dụng, chuyển giao, làm chủ các công nghệ mới, công nghệ cao trong lĩnh vực logistics.
Hỗ trợ doanh nghiệp logistics ứng dụng nền tảng số; hệ thống WMS, TMS, OMS tiêu chuẩn quốc tế.
Thực hiện các chương trình, hoạt động nâng cao nhận thức, hiểu biết cho cộng đồng doanh nghiệp thông qua các buổi hội nghị, tọa đàm, tập huấn về khuyến khích sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài (3PL, 4PL, 5PL), sử dụng những giá trị gia tăng trong quá trình lưu thông sản phẩm, hàng hóa trước khi đưa đến tay người tiêu dùng.
Thúc đẩy liên kết giữa các Trường Đại học, Trung cấp nghề, các tổ chức nước ngoài để hình thành mạng lưới đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp logistics theo chuẩn FIATA, CSCMP.
Đẩy mạnh hợp tác liên kết vùng với các địa phương lân cận trong vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và với các tỉnh, thành phố trong cả nước về hạ tầng, các quy định, cơ chế quản lý.
Hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các lĩnh vực dịch vụ logistics chuyên biệt phục vụ hàng nông sản, hàng công nghiệp, hàng chế biến, chế tạo; các dịch vụ logistics cho hàng hóa đặc biệt, siêu trường, siêu trọng và các dịch vụ logistics phục vụ xuất khẩu, thương mại điện tử xuyên biên giới.